Thanh Hoá Sơ kết thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; sơ kết 01 năm triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”
Hội nghị sơ kết thực hiện Nghị quyết
số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; sơ kết 1 năm triển khai phong trào “Bình
dân học vụ số” trên địa bàn tỉnh được tổ chức trực tiếp tại điểm cầu của Tỉnh uỷ
và trực tuyến đến tất cả các điểm cầu của các sở, ban, ngành và 166 UBND cấp xã.
Chủ trì hội nghị gồm có các đồng chí:
Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh,
Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh; Nguyễn Hoài Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh
ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh; Nguyễn Hồng Phong, Ủy viên
dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh,
Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh; Trịnh Tuấn Sinh, Phó Bí thư Tỉnh ủy,
Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh.

Đồng chí Lê Đức Thái Ủy viên Trung
ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh
Hội nghị đã đánh giá kết quả đạt được
trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và phong trào “Bình dân
học vụ số” trên địa bàn tỉnh. Cụ thẻ:
1. Kết quả nổi bật nhất qua 1 năm 6
tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW
a) Chuyển mạnh phương thức chỉ đạo,
điều hành từ hành chính truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu số: Sau 01
năm 06 tháng triển khai, Thanh Hóa đã hình thành nền tảng quản trị số đồng bộ với
100% cơ quan, đơn vị sử dụng hệ thống quản lý văn bản điện tử, xử lý trên 6,2
triệu lượt văn bản, tỷ lệ ký số đạt trên 98%; vận hành Mô hình Trung tâm giám
sát điều hành thông minh (IOC) của tỉnh để thực hiện điều hành dựa trên dữ liệu
(trong đó triển khai 16 phân hệ giám sát với tổng số 128/142 chỉ tiêu, 125/350 CSDL
của các ngành và 47 giao diện ứng dụng thiết thực được tích hợp lên Ứng dụng số
Thanh Hóa) phục vụ người dân, du khách, doanh nghiệp, các cơ quan cấp ủy, chính
quyền, góp phần nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành theo thời gian thực.
b) Chuyển đổi phương thức lấy người
dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ: Thanh Hóa đã triển khai nhiều tiện ích
số giúp giảm thời gian, chi phí đi lại của người dân, doanh nghiệp và tăng tính
minh bạch như: Ban hành Nghị quyết số 12/2025/NQ-HĐND quy định miễn 100% phí và
lệ phí đối với các TTHC khi thực hiện qua DVCTT; triển khai mô hình Kiosk thông
minh và hệ thống xác thực, cấp bản sao số tài liệu điện tử, hỗ trợ giải quyết
trên 12.000 hồ sơ; thực hiện mô hình “3 Không”, “Công dân số” và hoàn thành 100%
chi trả an sinh xã hội qua tài khoản. Thu nhận 100% mẫu ADN cho thân nhân liệt
sĩ chưa xác định được danh tính (chiếm hơn 60% tổng thu nhận toàn quốc) và xác
định được danh tính 07 liệt sĩ.
c) Từng bước hình thành hạ tầng dữ liệu
và các nền tảng số dùng chung phục vụ phát triển lâu dài: Đến nay, tỉnh đã triển
khai 07/12 CSDL chuyên ngành, trong đó có 02 CSDL (tổ chức Đảng, đảng viên, cán
bộ công chức, viên chức và hộ tịch điện tử) hoàn thành, kết nối với Trung tâm dữ
liệu quốc gia; Duy trì hoạt động 296 phòng họp truyền hình trực tuyến kết nối từ
điểm cầu1 cấp tỉnh đến 100% điểm cầu các cơ quan, đơn vị cấp xã, phường với tổng
số 181 phiên họp do điểm cầu Tỉnh ủy, UBND tỉnh chủ trì.
d) Thúc đẩy hình thành các mô hình
kinh tế số mới: Từ phương thức sản xuất, tiêu thụ truyền thống, nhiều lĩnh vực
đã từng bước ứng dụng nền tảng số trong hoạt động kinh doanh. Hiện có 50% doanh
nghiệp nhỏ và vừa tham gia các sàn thương mại điện tử; 40% doanh nghiệp tham
gia hoạt động thương mại điện tử thông qua các ứng dụng di động; 70% các đơn vị
cung cấp dịch vụ nước, viễn thông và truyền thông đã triển khai hợp đồng điện tử
với người tiêu dùng. Tỉ lệ dân số tham gia mua sắm trực tuyến đạt khoảng 48%; tỉ
lệ doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử đạt 34,13%; tỉ lệ thanh toán không
dùng tiền mặt trong thương mại điện tử ước đạt 30%. Các sản phẩm OCOP của tỉnh
được quảng bá trên các màn hình LED tại các khu vực công cộng của nhiều đô thị
lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang…) kết hợp Hệ thống Kiosk
thông minh về giới thiệu văn hóa, du lịch tại các điểm công cộng, khu du lịch,
tâm linh… dần khẳng định vị thế và cách tiếp cận mới, không phụ thuộc kênh tiêu
thụ truyền thống, tăng trưởng doanh thu.
e) Phát triển hạ tầng số hiện đại, tạo
nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương: Hạ tầng viễn thông trước
đây chủ yếu phục vụ kết nối cơ bản, nay đã chuyển sang hỗ trợ phát triển kinh tế
số, xã hội số; mạng 5G được triển khai tại hầu hết các xã, phường, khu kinh tế,
khu công nghiệp, khu dịch vụ logistics trọng điểm, đạt tỷ lệ phủ sóng khoảng
45% khu vực dân cư, tạo điều kiện thu hút đầu tư, phát triển sản xuất thông
minh và các dịch vụ số; xóa lõm sóng, thiếu điện trong tiếp cận chuyển đổi số
cho 13 thôn, bản khó khăn.
Hội nghị đã chỉ ra những chuyển biến
quan trọng nhất so với thời điểm mới ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW:
- Tư duy, nhận thức của lãnh đạo, cơ
quan, đơn vị được nâng lên nấc mới, không chỉ chủ động thực hiện mà còn đột phá
phát triển, coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột
phá quan trọng hàng đầu dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và quản trị hiện
đại.
- Các chỉ tiêu, tiến độ thực hiện,
phân công trách nhiệm được đặt ra rất rõ với tư duy thể chế lấy người dân,
doanh nghiệp làm trung tâm, nhà khoa học là nhân tố then chốt, nhà nước giữ vai
trò dẫn dắt.
- Phương thức chỉ đạo điều hành chuyển
mạnh sang dựa trên dữ liệu số; Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC) tỉnh
đã vận hành chính thức với 16 phân hệ dữ liệu, cung cấp công cụ giám sát trực
quan cho lãnh đạo tỉnh, triển khai Bộ chỉ số phục vụ công tác chỉ đạo, điều
hành trên môi trường điện tử.
Đồng thời xác định những tồn tại, điểm
nghẽn lớn đang cản trở tiến độ, chất lượng, hiệu quả thực hiện: CSDL của một số
ngành chưa được kết nối, chia sẻ dữ liệu đến địa phương để tái sử dụng và rút
ngắn thời gian giải quyết TTHC và các nhiệm vụ.
2. Kết quả 01 năm triển khai phong
trào “Bình dân học vụ số”
Phong trào “Bình dân học vụ số” được
triển khai sâu rộng với 100% xã, phường thành lập Ban Chỉ đạo; 4.351 tổ công
nghệ số cộng đồng với gần 16.000 thành viên thực hiện chiến dịch “Đi từng ngõ,
gõ từng nhà, hướng dẫn từng người dân kỹ năng số”, góp phần nâng cao kỹ năng số
cho người dân và thúc đẩy xây dựng xã hội số. 100% cơ sở giáo dục phổ thông
trên địa bàn tỉnh thực hiện Khung năng lực số, tích hợp nội dung kỹ năng số
trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 và các hoạt động STEM, STEAM,
Robotics, AI, an toàn thông tin, an toàn không gian mạng. Mạng lưới “Đại sứ số”
từng bước được hình thành và phát huy hiệu quả theo phương châm “Người biết hướng
dẫn người chưa biết”; phong trào “Gia đình số” được triển khai sâu rộng, góp phần
nâng cao nhận thức và kỹ năng số trong từng hộ gia đình; mô hình “Chợ số - Nông
thôn số” thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; mô hình “Mỗi công dân - Một danh tính số”
được triển khai hiệu quả, nhiều địa phương đạt tỷ lệ kích hoạt tài khoản định
danh điện tử trên 95%.
Bên cạnh các mô hình theo kế hoạch của
tỉnh, nhiều địa phương, đơn vị đã chủ động xây dựng các mô hình sáng tạo, phù hợp
với thực tiễn cơ sở như: “Chuyến xe 0 đồng”, “Tổ hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến”,
“Phòng tiếp công dân trực tuyến”, “Chuyển đổi số nhanh nhất, phục vụ dân tốt nhất”,
“Kênh Zalo cộng đồng”, “Đội bình dân học vụ số lưu động”, “Đội hình số lưu động”,
“Đội hình thanh niên hướng dẫn sử dụng nền tảng số”, “Sân khấu hóa tuyên truyền
số”, “Ứng dụng AI trong công tác tuyên truyền chuyển đổi số cộng đồng”, “Số hóa
di tích lịch sử, văn hóa”, “Lớp học số buổi tối cho người cao tuổi”, “Bản, làng
với công nghệ số”, “Chi bộ số”, “Gắn Phong trào bình dân học vụ số với Phong
trào học tập thường xuyên, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập”, “Phòng họp
không giấy”, “Trợ lý AI”, “Ứng dụng công nghệ số trong công tác dân vận”...
Hội nghị đã được nghe các ý kiến tham
luận của các đại biểu đến từ các sở, ban, ngành, UBND cấp xã, doanh nghiệp: Ban
Tổ chức Tỉnh uỷ, Sở KHCN, Công an tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Trường ĐH Hồng
Đức, Viettel Thanh Hoá, Đảng uỷ phường Hạc Thành, Đảng uỷ phường Sầm Sơn…
Kết luận hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh
ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh Lê Đức Thái ghi nhận, biểu dương tinh thần chủ động,
trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện nghị quyết
thời gian qua đồng thời đề nghị UBND tỉnh tập trung rà soát, hoàn thiện, chuẩn
hóa và kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu của tỉnh; ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu
phục vụ quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, giải phóng mặt bằng, nông nghiệp,
du lịch và các lĩnh vực thiết yếu. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo,
dữ liệu lớn và các công nghệ số tiên tiến trong quản lý, điều hành, cải cách
hành chính và giải quyết công việc, tạo ra các sản phẩm phục vụ thiết thực người
dân và doanh nghiệp.
Tại hội nghị có 15 tập thể và 27 cá
nhân đã được tặng bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.